Thursday, January 7, 2010

Quá trình phát triển giáo dục đại học ở Nhật và những bài học

Hôm đi công tác bên Nhật, một anh bạn Nhật ở Đại học Nagoya cho tôi đọc một tài liệu dài viết về kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học ở Nhật sau một hồi bàn cãi về giáo dục. Tác giả tài liệu là Tetsuya Kobayashi, một nhà giáo dục học thuộc Đại học Kyoto. Mãi đến hôm nay tôi mới đọc xong và “tiêu hóa” chút ít nội dung của tài liệu này. Tôi ghi lại đây vài dòng để gọi là nhật kí blog ...

Quá trình phát triển giáo dục đại học ở Nhật có thể chia làm 4 giai đoạn như sau:

(1) thời kì Tây phương hóa (1868-1886);

(2) thời kì cách mạng kĩ nghệ và đại học (1886-1914);

(3) thời kì phát triển kĩ nghệ, chiến tranh, và “bành trướng” của hệ thống đại học (1914-1945); và

(4) thời kì hậu chiến (1945 cho đến nay).

Bốn giai đoạn phát triển của hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) của Nhật cũng có thể cung cấp cho chúng ta một vài bài học và kinh nghiệm đáng tham khảo. Đáng tham khảo là bởi vì Nhật cũng xuất phát từ một nước nông nghiệp, và cũng kinh qua một thời gian chiến tranh khốc liệt.

Giai đoạn 1: Tây phương hóa được khởi xướng từ thời Minh Trị Thiên Hoàng từ năm 1868. Trong giai đoạn này, Nhật cảm thấy bị đe dọa bởi các thế lực quân sự và kĩ nghệ của thế giới phương Tây, nhưng họ thấy đó là một cơ hội để tái cấu trúc hệ thống chính trị, xã hội và kinh tế, chuẩn bị cho sự nghiệp kĩ nghệ hóa đất nước. Minh Trị nhận thức rằng Nhật cần phải nắm lấy và làm chủ những “know-how” của phương Tây.

Năm 1877, Đại học Tokyo được thành lập (trước đây trường này chỉ là một trường cao đẳng dạy ngoại ngữ và y học cổ truyền). Đại học Tokyo lúc đó có 4 khoa: luật khoa, khoa học, văn khoa, và y khoa. Trong giai đoạn phát triển này, phần lớn giáo sư là người ngoại quốc. Trong số 36 giáo sư, có đến 23 người là giáo sư từ Anh, Pháp, Đức, và Mĩ. Ngay cả những giáo sư người Nhật cũng là những người từng tốt nghiệp từ các nước vừa kể. Trong thời gian 20 năm sau đó, có đến 400 giáo sư từ các nước phương Tây được Bộ Giáo dục Nhật mướn (hay mời) dạy tại các đại học và cao đẳng trên khắp nước Nhật. Không chỉ trong ngành giáo dục, Nhật còn mướn các chuyên gia phương Tây để làm việc và hướng dẫn trong các ngành như khai thác hầm mỏ, đường sắt, điện lực, điện tín, hãng xưởng, v.v… Trong cùng lúc với sự hình thành của Đại học Tokyo, Nhật tích cực gửi sinh viên sang các nước phương Tây theo học tại các trường danh tiếng trên thế giới. Những “hạt nhân” đó sau này nắm giữ những chức vụ quan trọng trong hệ thống đại học và chính quyền.

Giai đoạn 2: Cách mạng kĩ nghệ và đại học. Giai đoạn này được đánh dấu qua việc thiết lập hệ thống “đại học vương triều” (Imperial University System), và định hướng rõ ràng rằng giáo dục phải phục vụ cho các mục tiêu của Nhà nước. Năm 1890, [Đại học] Tokyo Imperial University được cho phép thành lập thêm một khoa mới: đó là khoa nông học. Năm 1897, [Đại học] Kyoto Imperial University được thành lập theo mô hình của Đại học Tokyo. Kể từ đó, một số đại học trong hệ thống vương triều được thành lập, như Tohoku Imperial University (1907), Kyushu Imperial University (1910). Cả hai trường mới này chuyên về khoa học ứng dụng.

Thời gian mà các đại học vương triều ra đời trùng hợp với giai đoạn cách mạng kĩ nghệ ở Nhật. Cuộc cách mạng kĩ nghệ chủ yếu xảy ra ở ngành dệt và kĩ nghệ nhẹ, và chính các ngành “nhẹ” này đã là những viên gạch lót đường để Nhật trở thành một cường quốc kĩ nghệ sau này. Các đại học vương triều có nhiệm vụ phải đào tạo các kĩ sư và khoa học gia, chuyên gia để đáp ứng nhu cầu của cuộc cách mạng kĩ nghệ. Mặc dù ý thức được rằng đại học còn phải đào tạo các nhà nghiên cứu, nhưng trong giai đoạn này khi mà công nghệ của Nhật còn quá thô sơ, nên họ chủ yếu nhắm vào việc đào tạo chuyên gia lành nghề, và việc đào tạo chuyên gia nghiên cứu chỉ tập trung ở các đại học lớn như Tokyo và Kyoto.

Song song với sự ra đời của các đại học vương triều, Nhật còn thành lập một số trường cao đẳng kĩ thuật (technical college). Các trường cao đẳng có nhiệm vụ giới thiệu các công nghệ của thế giới phương Tây nhưng có ứng dụng thực tế vào điều kiện phát triển ở Nhật. Đến năm 1910, Nhật đã có 17 trường cao đẳng kĩ thuật, và mỗi năm huấn luyện được hàng ngàn chuyên viên kĩ thuật.

Trong thời kì này, Nhật còn có một số đại học tư thục, tuy lúc đó các trường này chưa được công nhận là “đại học” mà chỉ là những “trường đặc biệt” (special schools). Mãi đến năm 1918 các trường đại học tư thục mới được chính thức công nhận là đại học. Sau này, một số trường tư thục đó trở thành một đại học danh tiếng. Chẳng hạn như Đại học Keio được thành lập năm 1868 (do gia đình của Fukuzawa Yukichi thành lập), Đại học Doshisa (của Niijima Jo lập năm 1875), Đại học Waseda (do Okuma Shigenobu lập năm 1882) đã có công đào tạo các chuyên gia kĩ thuật và quản lí cho các công ti tư nhân, và đóng góp một phần lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa của Nhật.

Giai đoạn 3: Hậu chiến và phát triển. Trong thời gian chiến tranh, Nhật đã làm được một điều kì diệu: phát triển đại học và kĩ nghệ. Cuộc chiến Nga – Nhật (1904-1905) là giai đoạn Nhật “củng cố lực lượng” để xây dựng và bành trướng thực lực quân sự. Đến thế chiến 1914-1918 thì thực lực quân sự của Nhật đã được chứng minh. Thế chiến thứ nhất là động cơ để Nhật tiến hành một cuộc cách mạng kĩ nghệ thứ hai. Trong cuộc cách mạng này, Nhật tập trung vào kĩ nghệ nặng như đóng tàu, sản xuất sắt thép, sản xuất máy kĩ nghệ, hóa học, v.v… Trong thời gian 1915 và 1918, sản lượng kĩ nghệ của Nhật tăng 6 lần, và lần đầu tiên, sản lượng kĩ nghệ qua mặt sản lượng nông nghiệp, biến Nhật thành một nước kĩ nghiệp tiên tiến.

Năm 1918 cũng là năm lịch sử vì chính phủ cho ra đời một đảng chính trị. Với sự tác động của đảng chính trị này, đạo luật thành lập các đại học địa phương và đại học vùng ra đời. Đạo luật còn cho phép thành lập các đại học chuyên ngành như đại học chuyên về kĩ thuật, kinh tế, nông học, v.v…

Đến năm 1930, Nhật đã có 7 đại học vương triều, với 3 đại học mới là Hokkaido, Osaka, và Nagoya. Các đại học vương triều mới này chuyên về khoa học và công nghệ. Trong cùng thời gian này, các đại học cũ hơn như Tokyo và Kyoto bắt đầu thành lập các viện nghiên cứu trong và ngoài đại học. Phần lớn các viện nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu về vật lí, hóa học, công nghệ hàng không. Trong giai đoạn này, Nhật đã có một hệ thống đại học hoàn chỉnh và tạo được một nền tảng cho phát triển khoa học kĩ thuật trong tương lai.

Giai đoạn 4: Hoàn thiện. Giai đoạn phát triển thứ tư này kéo dài từ Thế chiến thứ hai cho đến nay. Khi Nhật bị thất trận, tổng sản lượng kĩ nghệ giảm xuống mức thấp nhất của năm 1910. Trong giai đoạn đầu sau khi Nhật đầu hàng, tương lai của nước Nhật nằm trong tay của lực lượng chiếm đóng, và tương lai đất nước còn khá mập mờ. Năm 1949, chính quyền chiếm đóng đề nghị một cuộc tổng cải cách giáo dục trên toàn quốc. Theo đó, tất cả các đại học – từ hệ thống đại học vương triều đến đại học địa phương và tư thục – đều phải theo một chương trình đào tạo thống nhất: đó là 4 năm cho cấp cử nhân. Đến năm 1950, Nhật đã có 201 trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu.

Đến năm 1952, khi Nhật được trao quyền tự trị, tương lai của Nhật có vẻ rõ ràng hơn. Người Nhật nhận thức rõ rằng để tồn tại trên thế giới với sự hạn chế tài nguyên thiên nhiên, Nhật tùy thuộc rất lớn vào khả năng kĩ nghệ. Để phát triển kĩ nghệ, họ cần phải phát triển hệ thống giáo dục đại học đến một tầm cao hơn. Năm 1956, một tài liệu về giáo dục cao đẳng của Anh (White Paper on Technical Education) được dịch sang tiếng Nhật, và trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng, một kim chỉ nam cho hệ thống giáo dục đại học của Nhật sau này. Năm 1956, Cục Khoa học và Công nghệ được thành lập, và năm 1960 Hội đồng Khoa học và Công nghệ đề xuất một số chính sách để phát triển khoa học và công nghệ trong vòng 10 năm. Những đề nghị này trở thành định hướng phát triển và hoàn thiện hệ thống đại học cho đến ngày nay.

Ngày nay, Nhật có hơn 725 trường đại học và 518 trường cao đẳng. Chất lượng đào tạo đại học của Nhật được thế giới công nhận. Hiện nay, Nhật có 11 trường đại học được xếp vào hạng “top 200” trên thế giới, với Đại học Tokyo (hạng 19) và Kyoto (hạng 25). Trong thời gian 1997-2001, các nhà khoa học Nhật công bố khoảng 336,858 bài báo khoa học, chiếm 9.3% tổng số bài báo khoa học trên thế giới. Số ấn phẩm khoa học của Nhật đứng vào hàng thứ 4 trên thế giới, chỉ sao Mĩ, Liên hiệp Âu châu, Anh, và Đức.

Vài nhận xét

Đọc qua tập tài liệu về quá trình hình thành và phát triển của Nhật, tôi thấy có một số bài học hay kinh nghiệm có thể tham khảo.

Thứ nhất là nhờ Tây phương hóa. Một đặc điểm nổi bật nhất của hệ thống giáo dục đại học Nhật là mô hình phương Tây. Thật ra, từ thế kỉ 19, Nhật đã quyết định lấy phương Tây làm chuẩn cho giáo dục! Ngay từ đó, Nhật đã du nhập kiến thức và kĩ năng của phương Tây vào một nước phương có nền văn hóa phương Đông. Ngay từ thế kỉ 19, Nhật đã không ngần ngại bỏ ra một số tiền lớn để mướn các giáo sư và chuyên gia phương Tây đển giảng dạy tại các đại học Nhật. Theo thống kê, năm 1873, Bộ Giáo dục Nhật chi đến 14% ngân sách giáo dục cho các giáo sư ngoại quốc. Có điều đáng chú ý là họ chỉ Tây phương hóa những lĩnh vực họ cần (như kĩ thuật) chứ không phải Tây phương hóa nền văn hóa cổ truyền của họ.

Thứ hai là sự phối hợp nhịp nhàng giữa giáo dục và kĩ nghệ. Trong giai đoạn đầu kĩ nghệ hóa, Nhật không có một chiến lược phát triển có hệ thống hay có kế hoạch. Tuy nhiên, chính phủ có chính sách khuyến khích giới kĩ nghệ phát triển giáo dục và khoa học. Xuất phát từ chính sách này, nhiều trường đại học tư thục được thành lập, và cho đến nay, trong số hơn 725 đại học, có đến 565 (78%) là đại học tư thục do giới kĩ nghệ hay các tôn giáo sáng lập. Nhà nước và giới kĩ nghệ có sự phối hợp tốt để đảm bảo công ăn việc làm cho sinh viên khi tốt nghiệp. Qua trình phát triển các đại học tư thục cũng thể hiện đóng góp quan trọng của giới kĩ nghệ trong việc nâng cao giáo dục cho quốc dân ở Nhật.

Thứ ba là tự chủ. Trong giai đoạn đầu phát triển, các đại học chịu sự chỉ đạo của chính phủ, nhưng đến giai đoạn 2 trở đi, các đại học được tự quản. Trong giai đoạn đầu, các đại học Nhật “vận hành” chủ yếu với chức năng tiếp thu và chuyển giao công nghệ của phương Tây vào môi trường kinh tế xã hội Nhật. Khi giai đoan du nhập đã qua, các đại học trở nên tự chủ, và tự do hơn trong giảng dạy và nghiên cứu. Năm 1919, các giáo sư được quyền chọn hiệu trưởng và đồng nghiệp.

Thứ tư là chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế. Ai cũng biết người Nhật có tinh thần quốc gia rất cao. Ấy thế mà họ chẳng những chấp nhận mà còn tích cự du nhập tri thức và kĩ thuật từ phương Tây. Trong giai đoạn đầu, các đại học Nhật chủ yếu phục vụ cho quyền lợi của Nhật, như ngay cả các đại học vương triều cũng có sứ mệnh cụ thể là sáng tạo ra tri thức nhằm phục vụ quốc gia. Nhưng sau khi đã ổn định và nhận thực được rằng thế giới càng ngày càng liên đới nhau, các đại học Nhật bắt đầu vươn ra ngoài Nhật theo tinh thần chủ nghĩa quốc tế.

Ở Việt Nam, đã có nhiều bàn luận về giáo dục đại học, nhưng hình như cho đến nay chính phủ vẫn chưa đồng ý với một mô hình nào. Trước kia thì giáo dục đại học theo mô hình của Pháp, rồi đến Mĩ, và một thời gian dài phía Bắc là theo mô hình của Nga (hay Liên Xô cũ). Hệ quả là ngày nay chúng ta có một hệ thống giáo dục pha trộn một số đặc điểm của Pháp, Liên Xô cũ, và Mĩ. Nói chẳng giống ai, hay nói như Gs Huỳnh Hữu Tuệ là “quá kì dị”. Vậy thì câu hỏi đặt ra là chúng ta cần làm gì để hệ thống giáo dục đại học nước ta không quá dị kì? Hầu như bất cứ ai quan tâm đến giáo dục nước nhà đầu muốn có một cuộc cải cách toàn diện giống như Nhật vào những năm Thế chiến thứ hai. Theo tôi, những lĩnh vực cần cải cách là:

Cải cách tổ chức. Hiện nay, theo số liệu thống kê, Việt Nam đã có 376 trường đại học; hơn 70% trong số này mới được thành lập trong 5 năm qua! Nhưng tiêu chuẩn thế nào là một đại học vẫn chưa được rõ ràng mấy, hay có những qui định về tiêu chuẩn nhưng còn nặng tính hành chính chứ không khoa bảng. Có thể nói không ngoa rằng rất nhiều đại học hiện nay không phải là đại học theo chuẩn mực quốc tế. (Gần đây, chúng ta đã thấy “Đại học Phan Thiết” như thế nào). Do đó, cần phải rà soát lại và nếu cần giải tán những trường không đủ tiêu chuẩn hay sáp nhập với các trường khác.

Cải cách hệ thống lương bổng. Đại học là nơi tập trung những thành phần trí thức ưu tú, và là cái nôi phát triển và nuôi dưỡng nhân tài. Nhưng điều đáng buồn ở Việt Nam ngày nay là đại học không có sức thu hút nhân tài, vì tình trạng lương bổng quá nghèo nàn, không đủ nuôi sống những nhà khoa học có tài thực sự. Vì thế, cần phải ổn định một số nhỏ nhà nghiên cứu làm nghiên cứu cơ bản qua tăng lương một cách xứng đáng cho họ có thể sinh sống trong một nền kinh tế thị trường. Một nhà khoa học không thể nào nghiên cứu trong khi cái tâm cứ nơm nớp lo nghĩ đến miếng ăn hàng ngày. Cần phải có chính sách cụ thể khuyến khích các nhà khoa bảng làm nghiên cứu ứng dụng và qua đó tăng khả năng thu nhập riêng cho họ và cho trường đại học. Cần phải khuyến khích (bằng các phần thưởng xứng đáng về vật chất và danh dự cho các) sinh viên tham gia thành công vào nghiên cứu khoa học.

Giảng dạy. Vấn đề đào tạo đội ngũ giảng dạy trong các đại học chiếm một vị thế cực kì quan trọng trong việc nuôi dưỡng nhân tài. Trong khi các trường đại học ta đang thiếu thốn giảng viên một cách nghiêm trọng, số lượng được đào tạo trong nước chẳng là bao. Theo như một thống kê gần đây, trong vòng 30 năm qua, kể từ khi có quyết định chương trình đào tạo hậu đại học trong nước, trung bình mỗi năm cả nước chỉ đào tạo trên dưới 650 thạc sĩ và tiến sĩ, một con số rất ư làm khiêm tốn, có khi còn thấp hơn con số của một trường lớn ở các nước phương Tây. Rõ ràng, một số lớn này phải được đào tạo từ nước ngoài. Do đó, Việt Nam cần mạnh dạn gửi học sinh và giảng viên ra nước ngoài học hậu đại học nhiều hơn nữa. Nhưng đơn thuần gửi sinh viên ra ngoài học là một phương án tương đối đắc giá. Tôi nghĩ một phương án khác đỡ tốn kém hơn là qua đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu với các đại học nước ngoài, để qua đó tạo điều kiện cho cộng tác viên phiá Việt Nam có cơ hội làm luận án và đào tạo được thêm chuyên viên nghiên cứu và giảng viên cho Việt Nam với kinh phí vừa phải.

Nghiên cứu khoa học. Các hàm như "giáo sư" không nên được xem là một danh hiệu vinh quang hay huân chương khoa bảng, mà chỉ là những chức vụ khoa bảng, dùng để ghi nhận sự cống hiến, và ở một khía cạnh nào đó, trình độ chuyên môn, của người được đề bạt. Một sự thật mà những ai hoạt động trong khoa học đều phải công nhận là sự hiện diện của các nhà khoa học ở trong nước trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Để nâng cao chất lượng người được đề bạt và khuyến khích nghiên cứu khoa học, tôi đề nghị tiêu chuẩn được đề bạt không nên được căn cứ hay đặt nặng vào số lượng bài báo công bố, mà nên đặt nặng vào chất lượng của những bài báo đó. Ở Mĩ, có nhiều giáo sư thực thụ chỉ có 30 hay 40 bài báo (tất nhiên là có chất lượng, được đồng nghiệp trên thế giới ghi nhận), không cần đến con số 100 như các nước khác. Ở các nước phương Tây ngày nay, chất lượng các bài báo đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế, thường được xem là những thước đo chuẩn về khả năng làm khoa học của người giữ các chức vụ khoa bảng trong đại học hay các viện nghiên cứu. Một người mang hàm "giáo sư" mà "vô danh" trên trường quốc tế trong lĩnh vực hoạt động của mình là một điều không thể chấp nhận được.

Cơ sở vật chất. Tất cả các đại học ở Việt Nam đều quá nghèo nàn về cơ sở vật chất. Thư viện quá nhỏ và thiếu sách, tạp chí khoa học trầm trọng. Phòng lab thí nghiệm cũng cực kì khiêm tốn. Đặc biệt là hệ thống internet quá yếu. Thế giới ngày nay đang ở trong một thời kì cách mạng vĩ đại về thông tin, mà trong đó internet là một công cụ cực kì quan trọng. Công nghệ thông tin (information technology) được công nhận là một bộ phận không thể thiếu được trong giáo dục. Internet không những là một kho tàng thông tin, một thư viện bách khoa vĩ đại của nhân loại, mà còn là một trường đại học của cộng đồng trên thế giới. Mạng internet đã và đang làm thay đổi hầu như trong mọi vận hành, kể cả cách thức giảng dạy và nghiên cứu, trong tất cả các trường đại học ở phương Tây. Internet, điện thư (e-mail), và hội đàm viễn liên (teleconference) đang nhanh chóng thay đổi lề lối làm việc và nghiên cứu của các đại học phương Tây. Ngày nay, ở các nước như Mĩ và Âu châu, nếu không có hệ thống internet chắc có lẽ trường đại học sẽ ngưng hoạt động! Tôi đã từng hướng dẫn thành công vài du học sinh chỉ qua điện thư! Trong khi đó, số lượng học sinh, sinh viên và các nhà khoa học ở trong nước có điều kiện truy nhập vào mạng Internet còn quá ít. Do đó, giúp đỡ và tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh tham gia vào cuộc cách mạng về công nghệ thông tin này cần phải được đưa lên một trong những quốc sách hàng đầu trong nền giáo dục. Tôi đề nghị Nhà nước nên dành một ngân khoản xứng đáng cho tất cả các trường đại học được nối vào một mạng chung. Trong khi việc nâng cấp các thư viện là một mục tiêu lâu dài, Nhà nước cần dành ra một ngân khoản giúp đỡ giảng viên và sinh viên ở các trường đại học hay viện nghiên cứu được truy nhập mạng internet miễn phí hay với chi phí tối thiểu, để cho họ có được những thông tin khoa học mới nhất hay có cơ hội trao đổi ý kiến với đồng nghiệp trên thế giới.

Kiểm tra chất lượng. Tôi vẫn nghĩ sự buông lỏng trong kiểm tra chất lượng là một lí do lớn dẫn tới tình trạng trên đây kém chất lượng đào tạo. Cố nhiên, mỗi đại học cũng phải có trách nhiệm về chất lượng đào tạo, nhưng dường như có một số trường chưa nhận trách nhiệm này một cách nghiêm túc. Để tìm hiểu nguyên nhân và từ đó nâng cao chất lượng đào tạo cho tương đương với các tiêu chuẩn quốc tế, ngay bây giờ, cần có một ủy ban có nhiệm vụ chính là nghiên cứu phương pháp giảng dạy, đề ra tiêu chuẩn đồng nhất về đào tạo (kể cả sách giáo khoa) và thẩm tra chất lượng đào tạo cho tất cả các trường đại học và cơ sở đào tạo cấp đại học hay sau đại học. Ủy ban này nên độc lập với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, nhưng phải có đại diện của Bộ, của các trường đại học, của chính quyền địa phương, các nhà doanh nhân, cơ sở nghiên cứu, và các nhà khoa bảng ở nước ngoài. Ở Nam Phi trong các thập niên 70s và 80s, ủy ban kiểm tra chất lượng đào tạo đại học này đã rất thành công trong việc nâng cao chất lượng sinh viên của họ.

"Việt kiều". Hiện nay, số lượng người Việt đang định cư hay làm việc ở nước ngoài đã lên đến con số hai triệu; trong số này, có ít nhất là 10% có trình độ đại học trở lên. Trong hầu như tất cả các nghành khoa học và trong nhiều đại học trên thế giới, đều có sự hiện diện của người Việt; trong số này, có nhiều người giữ chức vụ khoa bảng quan trọng, có khả năng khoa học kĩ thuật cao, có kinh nghiệm lâu năm trong nghiên cứu khoa học, có uy tín lớn với các cơ quan cung cấp tài chính cho nghiên cứu, và quan trọng hơn nữa, làhọ có tâm huyết với nền giáo dục trong nước. Thế nhưng cho tới nay, mặc dù có sự cộng tác cá nhân giữa vài nhà khoa học ở ngoài và các trường, viện nghiên cứu trong nước, việc huy động và sử dụng nguồn nhân lực khoa học này vẫn chưa được tiến hành một cách có hệ thống. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo nên xúc tiến một ngân hàng dữ liệu về các nhà khoa học gốc Việt đang làm việc ở nước ngoài trong các lĩnh vực khoa học. Và từ đó, nhà nước nên có chính sách cụ thể và tích cực nhằm tạo điều kiện cho các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có cơ hội giảng dạy, tham gia vào việc thẩm định các luận án sau đại học, và nghiên cứu ở trong nước.

Nên lập ra những chương trình “visiting fellowship”, tức là chương trình thỉnh giảng. Tại các đại học và trung tâm nghiên cứu Tây phương, người ta đều có những chương trình “visiting fellowship” mà trong đó các giáo sư và nhà nghiên cứu ngoại quốc đến giảng dạy hay nghiên cứu trong một thời gian 3 hay 6 tháng. Đây là một hình thức “mở cửa” để trao đổi kinh nghiệm, để tìm cơ hội hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài, và qua đó tranh thủ sự tài trợ của họ.

Ở nước ta, năm 2020 thường được đề cập đến như một cái mốc thời điểm để hoàn thành công cuộc kĩ nghệ hóa và hiện đại hóa đất nước. Thời gian 10 năm không phải là dài, nếu không muốn nói là quá ngắn, cho một mục tiêu đầy thử thách và tham vọng này. Những ai quan tâm tới nền giáo dục trong nước đều nhận ra rằng việc cải cách nền giáo dục là cần thiết, nhưng dường như ai cũng ... bó tay. Nếu ta vẫn chưa thoát ra khỏi lối suy nghĩ ao tù, nơi mà thế giới không bao giờ thay đổi, hay kiểu không làm được hôm nay thì có thể làm ngày mai, thì ta lại càng bị tụt hậu và thua kém các nước khác trong vùng. Vấn đề cải cách giáo dục và chất lượng giáo dục cần phải được giải quyết ngay từ bây giờ, không thể dần dà để 5 hay 10 năm nữa, nếu ta không muốn bị thế hệ sau phê phán là đã thụ động.

NVT

No comments: