Friday, March 11, 2011

Để tưởng nhớ đến 2 người tài: Hữu Loan và Phạm Công Thiện

http://www.ligoal.net/pictung/phamcongthien/PCThien_Hotham.jpg
Ngày cuối tuần đọc báo mạng chợt gặp vài “cố nhân”. Tờ báo Nhịp cầu thế giới vừa giới thiệu bài viết về ngày giỗ của thi sĩ Hữu Loan, và có kèm theo hình của Văn Khoa. Bài viết nhắc đến những folklore cực kì thú vị về thi sĩ. Tôi phục ông thi sĩ này ... sát đất. Tôi nói cố nhân là vì người làm tờ NCTG và Văn Khoa đều là những người tôi từng quen biết cũng cả 15 năm qua. Tin thứ hai là triết gia Phạm Công Thiện qua đời. so với bản tin trên SGTT, bài báo trên Người Việt nói rõ hơn về thân thế và sự nghiệp Phạm Công Thiện, nên tôi lấy về đây để các bạn trẻ nào chưa nghe đến ông biết qua về một người trí thức rất đặc biệt. Từ những năm trước 1975 tôi ngưỡng mộ Phạm Công Thiện như là một đàn anh [tuổi trẻ +] tài cao. Mới độ 20 tuổi mà ông đã có sáng tác triết học. Thú thật, lúc đó tôi đọc tác phẩm của ông mà chẳng hiểu gì cả, phải nhờ đến các bạn hay chữ mới hiểu lõm bõm. Sau này tôi có một bộ sưu tập những tác phẩm phê bình văn học và triết học của ông.  Nay thấy ông ra đi nên ghi lại vài dòng để làm kỉ niệm. NVT



http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2831

Nhân giỗ đầu thi sĩ Hữu Loan: NHÂN CÁCH CỦA MỘT KẺ SĨ

Giỗ đầu nhà thơ Hữu Loan đã được tổ chức tại quê nhà Nga Sơn - Thanh Hóa của ông vào ngày 2-2 năm Tân Mão, tức Chủ nhật 6-3-2011 trong phạm vi gia đình và một số thân hữu thân thiết của ông lúc sinh thời.
Có mặt trong buổi giỗ, kỹ sư Lê Văn Chính - một cây bút rất tâm huyết và quen thuộc với độc giả NCTG với bút danh Văn Khoa, đồng thời cũng là một doanh nhân có tinh thần dân tộc và yêu văn hóa, được biết đến với thương vụ mua bản quyền bài thơ “Màu tím hoa sim” với giá 100 triệu đồng vào cuối năm 2004 - cho biết: ngôi mộ của cố thi sĩ đơn sơ và giản dị đến mức bất ngờ, có lẽ vì gia đình ông còn định cải táng cho ông.

Trong bữa trưa ngày Chủ nhật, mọi người đến dự giỗ đầu Hữu Loan đã có dịp nghe nhà văn Hoàng Tiến đọc bài viết mới nhất về Hữu Loan với những nhận xét và thông tin rất đặc sắc. Về mặt thi ca, Hoàng Tiến nhận xét Hữu Loan thuộc hàng các nhà thơ sáng tác không nhiều - vỏn vẹn cả đời mới in một tập thơ với dung lượng hơn chục bài thơ - nhưng một số tác phẩm được truyền tụng và đã trở thành bất tử, như “Màu tím hoa sim”, “Đèo Cả”, “Hoa lúa”…

Điều khiến Hữu Loan được đánh giá là một nhà thơ lớn là ở chỗ theo Hoàng Tiến, ông đã đáp ứng được hai tiêu chuẩn: một là có nội dung tư tưởng chứa đựng những cảm xúc thời đại, hai là có phương thức biểu cảm mới lạ. Hoàng Tiến chứng tỏ nhận xét ấy thông qua bài “Đèo Cả”, khởi đầu được tác giả viết bằng lục bát, rồi không ưng, bỏ đi và chuyển sang thể thơ xuống hàng và trên phương diện này, Hữu Loan đã có những cách tân rất sớm, từ năm 1946-1949 (trước Trần Dần nhiều năm).

Tuy nhiên, nhắc đến Hữu Loan, hậu thế nghĩ ngay đến một kẻ sĩ suốt đời giữ được cốt cách của bậc quân tửphú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (giàu sang không cám dỗ, nghèo khó chẳng chuyển lay, uy vũ không khuất phục). Hoàng Tiến nhắc lại: cố thi sĩ tự ví mình như cây gỗ vuông chành chạnh, không để cho ai đẽo gọt tròn trịa có thể lăn đi bất cứ chỗ nào.

Bài viết của Hoàng Tiến nhắc lại những mẩu chuyện thú vị khi Hữu Loan “tái xuất” trở ra Hà Nội sau gần 40 năm ở Nga Sơn làm ruộng và thồ đá nuôi con. Được biết, khi ra Hà Nội vào cuối thập niên 80 thế kỷ trước, thi sĩ phải tá túc ở căn hầm là nhà ở của nhà thơ Tú Sót ở 64 Bà Triệu. Căn hầm chật chội luôn phải bật đèn vì thiếu ánh sáng, nhưng nườm nượp người qua lại vì rất nhiều người muốn biết mặt nhà thơ Hữu Loan.

Theo lời Hoàng Tiến, một buổi, trong bữa rượu lạc thanh bần, Hữu Loan bỗng hỏi: “Truyện Kiều” có thằng bán tơ thật không?”. Mọi người ngớ ra. Cái tai nạn của cuộc đời Kiều, khởi nguyên là ở thằng bán tơ: “Phải tên xưng xuất tại thằng bán tơ” (câu 588). Rồi Hữu Loan hỏi tiếp: “Kiều lấy Từ Hải, hùng cứ một phương trời, có cảnh báo ân báo oán làm hả hê cuộc đời Kiều. Cảnh báo oán trừng phạt đầy đủ những người đã gây tai họa cho Kiều. Nhưng không thấy thằng bán tơ. Thế là sao?”.

Ngừng một lúc, nhấc chén rượu lên môi, rồi lại đặt xuống và sau một khoảng im lặng đủ để mọi người suy nghĩ, ông mới nhẹ nhàng lý giải: “Tôi bị cái họa Nhân văn – Giai phẩm, bị vu cho là phản động, lật đổ chính quyền, về Nga Sơn nằm dài, nhân đọc lại Kiều, mới thấy cụ Nguyễn Du nhà ta thánh thật. Thằng bán tơ là nhân vật bịa ra, nhân vật vu khống, không có thật, thì làm sao mang nó ra xét xử được.

Cụ Nguyễn Du giả vờ quên thằng bán tơ là cụ cao tay lắm trong nghệ thuật bút pháp. Kẻ hậu sinh đọc “Truyện Kiều”, suy ngẫm để nhận ra điều ấy, là nhận ra cái xã hội thối nát “Truyện Kiều”, đến công lý cũng vin vào một lời khai vu vơ làm tan nát cả một đời Kiều. Cái xã hội thiếu nhân tính, thiếu tôn trọng con người, gây oan khuất cho những người lương thiện, đáng nguyền rủa biết bao! Cái thâm thúy của cụ Nguyễn Du là ở đấy!
”.

Một mẩu chuyện khác. Hữu Loan về quê làm ruộng, thồ đá bán. Phòng thương nghiệp và dân quân được lệnh xét hỏi. Họ bắt nhà thơ đổ hai sọt đá xuống và nói: “Ông không vào hợp tác. Làm ăn riêng lẻ, để phát triển con đường tư bản. Chúng tôi cấm”.

Nhà thơ đáp: “Chúng tôi bị quy Nhân văn – Giai phẩm, nghĩa là phần tử nguy hiểm hơn cả địa chủ, tư sản. Hợp tác các ông không cho tôi vào. Ở đời này có hai việc tôi không thể làm được. Một là đi ăn cắp, hai là đi làm cán bộ. Nay, tôi lao động, kiếm sống nuôi con, mà các ông cũng cấm. Từ cổ chí kim, tôi không thấy một nhà nước nào cấm người ta lao động cả.

Còn các ông cấm, không cho tôi lao động, thì tôi chỉ còn một cách là đi ăn xin. Ngày mai tôi sẽ khoác bị chống gậy đi ăn xin, đề một tấm biển trước ngực: “Tú Loan, người ăn xin”. Các ông đừng bảo là tôi bôi xấu chế độ nhé
”. Nghe vậy, mấy “ông” thương nghiệp và dân quân quay ra bàn nhau một lúc, rồi rút lui.
Mẩu chuyện thứ ba khi cái họa Nhân văn – Giai phẩm đã lùi xa, nhiều người đến thăm hỏi Hữu Loan. Thấy ông ăn mặc mộc mạc, nhà cửa tuyềnh toàng, có người buột miệng hỏi: “Bấy lâu nay ông bận làm gì, mà không xây nhà cửa cho nó đàng hoàng, ở cho nó sướng cái thân”. Nhà thơ Hữu Loan đáp: “Tôi bận làm người”.

Nhà văn Hoàng Tiến kết luận: “Chúng tôi là lớp hậu sinh yêu thơ ông, quý mến ông, cảm thương những hoạn nạn mà ông đã trải, kính phục trước nhân cách khí khái, ngang tàng, mà chúng tôi thường nói với nhau: một nhân cách vuông chành chạnh!”.


Mộ phần giản dị đến không ngờ


Gia quyến nhà thơ



Ăn trưa và nghe nhà văn Hoàng Tiến đọc bài viết mới về Hữu Loan




Kỹ sư Lê Văn Chính - Văn Khoa bên bàn thờ Hữu Loan





http://sgtt.vn/Van-hoa/141516/Triet-gia-thi-si-Pham-Cong-Thien-qua-doi.html

Triết gia, thi sĩ Phạm Công Thiện qua đời

SGTT.VN - Triết gia, thi sĩ Phạm Công Thiện, sinh ngày 1.6.1941 tại Mỹ Tho, đã qua đời vào lúc 18h31 ngày 8.3.2011 tại thành phố Houston, bang Texas (Mỹ). Ngày 15.3.2011, tại chùa Già Lam (TP.HCM) sẽ tổ chức lễ cầu siêu cho ông.

Theo từ đển Wikipedia, trước 1970, ông giảng dạy tại đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Ông rời Việt Nam năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Đức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles và tiếp tục viết sách - phần lớn là nghiên cứu về đạo Phật.

Những tác phẩm của ông như Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền Tông; Trên tất cả đỉnh cao là im lặng (NXB Văn Hóa Sài Gòn- 2009)… đã được xuất bản ở Việt Nam.


http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=127898&z=3

Giáo Sư Phạm Công Thiện qua đời, thọ 71 tuổi
Wednesday, March 09, 2011

HOUSTON, Texas (NV) -Nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, dịch giả, giáo sư, cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện vừa qua đời ngày 8 tháng 3 năm 2011 tại Houston, Texas, thọ 71 tuổi, theo Cáo bạch ngày 9 tháng 3, 2011 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ cũng như sự xác nhận của gia đình.


Theo lời một thành viên gia đình nói với một thân hữu, ông Phạm Công Thiện dường như biết trước thời điểm “sẽ đi,” và trong ngày cuối cùng của cuộc đời, ông dặn gia đình “không làm tang lễ rườm rà, chỉ hỏa thiêu.”
Chiều cùng ngày, vẫn theo lời gia đình, ông thấy “mệt dần, bắt đầu nhập định, và ra đi nhẹ nhàng.”

Ông tên thật là Phạm Công Thiện, thời trẻ còn có bút hiệu Hoàng Thu Uyên cho các tác phẩm dịch, sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941 tại Mỹ Tho trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Từ tuổi thiếu niên ông đã nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ, năm 15 tuổi đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Sancrit và tiếng La Tinh.

Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh Ngữ Tinh Âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ. Từ những năm cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn.
Ðầu năm 1964, ông chuyển ra Nha Trang sống để an dưỡng sau một cuộc “khủng hoảng tinh thần.” Tại đây ông quy y ở chùa Hải Ðức, lấy pháp danh Nguyên Tánh. Một thời gian sau ông lại về Sài Gòn.

Từ năm 1966-1968, ông là giám đốc soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa viện Ðại Học Vạn Hạnh. Từ năm 1968-1970, giữ chức trưởng khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của viện. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Ðức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông trút áo cà sa để lấy vợ và sau đó làm giáo sư Triết học Tây phương của viện Ðại Học Toulouse.

Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, giữ chức giáo sư viện Phật Giáo College of Buddhist Studies. Từ khoảng năm 2005, ông sang cư ngụ tại Houston, tiểu bang Texas cho đến ngày ông qua đời.
Giữa thập niên 1960, Giáo Sư Phạm Công Thiện bắt đầu nổi tiếng với các tác phẩm xuất bản tại Sài Gòn, mà cuốn đầu tiên gây chú ý nhiều cho giới văn nghệ và thanh niên sinh viên là Ý Thức Mới Trong Văn nghệ và Triết Học (1965), rồi đến Yên Lặng Hố Thẳm (1967), Hố Thẳm Của Tư Tưởng (1967), Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực (1967). Về tôn giáo có “Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, Tổ sư Thiền Tông” (1964), thơ thì có “Ngày sinh của rắn” (1967), các tác phẩm văn học thiên về tư tưởng: “Trời tháng Tư” (1966), “Bay đi những cơn mưa phùn” (1970). Tất cả các tác phẩm này đều do hai nhà An Tiêm và Lá Bối tại Sài Gòn ấn hành.

Tại hải ngoại ông đã xuất bản khoảng mười tác phẩm, hầu hết trong thập niên 1990, như Ði Cho Hết Một Ðêm Hoang Vu Trên Mặt Ðất (1988), Sự Chuyển Ðộng Toàn Diện Của Tâm Thức Trong Tư Tưởng Phật Giáo (1994), Triết Lý Việt Nam Về Sự Vượt Biên (1995), Tinh Túy Trong Sáng Của Ðạo Lý Phật Giáo (1998), v.v...Ông cũng đóng góp nhiều cho báo chí, chẳng hạn viết cho tạp chí Thế Kỷ 21, nhật báo Người Việt. Có thể nói, tác phẩm cuối cùng của ông là bài viết cho Giai Phẩm Xuân Người Việt 2011.

Thượng Tọa Thích Viên Lý, viện chủ Chùa Ðiều Ngự, California, người từng nhiều năm cư ngụ cùng Phạm Công Thiện tại chùa Diệu Pháp, nói rằng cư sĩ Phạm Công Thiện đã “đóng góp rất lớn về mặt văn hóa đối với Việt Nam,” và luôn “mong Phật Giáo Việt Nam được xiển dương một cách đúng mức.”

Từ khi còn rất trẻ cho đến cuối đời, Phạm Công Thiện đã đóng góp rất nhiều cho văn hóa Việt Nam về các phương diện ngôn ngữ, thơ, văn và đặc biệt về tư tưởng triết học. Ðối với Phật Giáo ông cũng là người có công lớn với các công trình nghiên cứu Phật học, và đặc biệt, đã góp nhiều công sức xây dựng viện Ðại Học Phật Giáo Việt Nam đầu tiên Vạn Hạnh tại Sài Gòn từ năm 1966, trong đó có tập san Tư Tưởng là cơ quan phát huy tư tưởng Phật Giáo quan trọng nhất của Việt Nam trong thời cận đại.


Phạm Công Thiện: ‘Ðã đi mất hẳn đi rồi’
Viên Linh
Sinh hoạt văn hóa miền Nam, thu nhỏ vào lãnh vực Văn Học và Triết Học, và giới hạn từ 1963 trở đi, đã tưng bừng phát triển, như hải triều, như thác đổ, phá vỡ những oi nồng của một thời kỳ ung độc, đưa thế hệ hai mươi thuở đó và những thế hệ hai mươi khác của đất nước trở về với suối nguồn tư tưởng Ðông Phương, là công lao chung của một nhóm thanh niên trí thức đã xuất gia: Nhóm Vạn Hạnh.

Chưa bao giờ sinh viên học sinh miền Nam, vốn khắc khoải trước các vận động mở cửa nhìn ra thế giới, ù tai và nhức óc với những kinh điển siêu hình phương Tây, lại thấy được chân trời lồng lộng sáng lòa, hiển thế, thân ái, ai ngờ lại ở ngay ngưỡng cửa của ngôi nhà dân tộc mình. Hãy trở về Phương Ðông, hãy vực dậy Hồn Việt.

Hồi ấy, mạnh mẽ lên đường từ 65-66, Nhóm Trẻ Tuổi năm bảy người ấy xông xáo trong các tờ tạp chí văn hóa, nơi những nhà xuất bản tôn giáo, dưới mái các giảng đường cao đẳng, vui sống là làm việc, học và hành, tung ra bốn phương những hoa thơm cỏ lạ, những tác phẩm chan chứa tình yêu thương, yêu thương con người nhân loại, tràn đầy hy vọng và tin tưởng. Họ không phải một người. Họ là một toán, một đoàn, một đội. Thời ấy miền Nam đâu đâu cũng nói chuyện võ hiệp, như xa xưa nơi phương Bắc thời các tay tứ chiếng giang hồ tìm về Lương Sơn Bạc mưu chuyện đổi thay; họ tìm về Cao Ðẳng Phật Học và Vạn Hạnh dựng nền đắp móng. Không kể các bậc thầy đã xa như Ðức Nhuận, Thanh Kiểm, Thanh Từ,... hay kế tiếp như Minh Châu, Nguyễn Ðăng Thục, Tôn Thất Thiện, Trần Ngọc Ninh, Vũ Văn Mẫu,... Nhóm Trẻ là “Tây Ðộc” Phạm Công Thiện, “Ðông Tà” Tuệ Sỹ, Chơn Hạnh “Trung Thần Thông,” Chơn Pháp “Bắc Cái,” Nghi Lâm sư muội Trí Hải, và “Chu Bá Thông” Bùi Giáng, võ công tuyệt đỉnh nhưng không chịu hẳn một môn phái nào. Hôm qua, 8 tháng 3, 2011, Phạm Công Thiện đã ra đi.

Nói đến Phạm Công Thiện là nói đến tác phẩm “Ý thức mới trong văn nghệ và Triết học,” cuốn sách các sinh viên thường có trong tay, xuất bản năm 1965. Cũng phải nói đến cuốn luận văn quan trọng của Thiện, phê bình sách của Giáo Sư Nguyễn Văn Trung về Phật Giáo, và những cuốn khác như:

“Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, Tổ sư Thiền tông” 1964, “Im lặng hố thẳm, Phương pháp suy tư về Việt và Tính, con đường của Triết lý Việt Nam” 1967, “Hố thẳm của tư tưởng, Ðặt lại căn nguyên tư tưởng hôm nay” 1967; không kể truyện ngắn, hay những cuốn sách viết về Rilke, 1969, Miller, 1969,... Với những cuốn sách ấy, Thích Nguyên Tánh Phạm Công Thiện đã đóng góp công lao lớn trong sự xây dựng Phật Giáo Việt Nam.
Ðể đưa tiễn nhà thơ triết gia, không gì bằng nhắc đến một câu thơ của Goethe mà tác giả “Hố Thẳm” hay nhắc: “Trên Tất Cả Các Ðỉnh Cao, Là Bình Yên.” Mới năm kia, Phạm Công Thiện đã sửa lại hai chữ sau cùng, dùng để đặt nhan đề cho tập thơ cuối cùng của ông, do Hương Tích xuất bản: Trên Tất Cả Các Ðỉnh Cao Là Lặng Im.”

Ðã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Ðã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều
Chuyển hình trên đỉnh cô liêu
Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn
Ðại huyền biến ngưỡng triêu tôn
Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao
Án nga nga nẵng bạch hào
Một luồng sáng rực chiếu vào trái tim.

(Phạm Công Thiện, Ði, tr. 22, Trên tất cả...)

6 giờ 22, 9 tháng 3, 2011

No comments: