Sunday, February 7, 2016

Chúc Tết Bính Thân 2016

Chỉ còn vài giờ nữa là đến Giao thừa, và chúng ta sẽ bước sang năm Bính Thân. Dù biết rằng là sáo ngữ, nhưng tôi vẫn chúc -- thành thật chúc -- các bạn một năm Bính Thân hạnh phúc, sức khoẻ dồi dào, may mắn, và hanh thông.





Tôi hình dung ở bên nhà lúc này chắc mấy đứa em tôi đang bày mâm mứt, mâm trái cây, đốt bộ cúng bên cái cà ràng, và lâm râm nhờ ông bà phù hộ làm những việc làm tốt trong năm của cả nhà. Còn bên này thì trớ trêu thay lại là mùa hè. Và, như năm nay trong cái thời tiết không có gió bấc mà chỉ chợt mưa chợt nắng chẳng vì đâu, cõi tâm thức thường ngày vốn chỉ dành cho những câu hỏi xương xậu và trừu tượng chợt xao xuyến một cách vô cớ. Cái chông chênh của đất trời như đang phụ họa với lòng của kẻ xa quê nghĩ về một cái gì từng là nỗi băn khoăn nghìn đời của một kiếp người.

Đã 35 năm qua, tôi chưa có dịp đón Tết ở quê nhà. Điều đó cũng có nghĩa là tôi chưa có một cái Tết nào đúng nghĩa trong suốt 1/3 thế kỉ. Lí do đơn giản là Tết thường rơi vào tháng 2, đúng vào cái thời điểm rất bận rộn trong việc viết grant xin tài trợ. Do đó, không thể nào bỏ việc quan trọng này để ăn Tết được. Thành ra, cứ mỗi lần Tết về là tôi lại nhớ đến những cái Tết miệt quê ...

Thời đó là cuối thập niên 1960s và đầu thập niên 1970s. Đó là những cái Tết trong thời chiến tranh ác liệt. Nhưng dù chiến tranh tang thương thế nào, thì đến ngày Tết bom đạn cũng nhường cho sự đoàn viên và độ lượng. Ở miệt quê tôi, Tết thật ra đến sớm hơn ngày mồng Một. Đó là lúc mà lúc trời bắt đầu se se lạnh, những cơn gió bấc bắt đầu thổi lao xao, nước sông lăn tăn gợn sóng. Đó là lúc mùa gặt lúa xong xuôi, lúa đã vào bồ. Má tôi tất tả chuẩn bị nào nếp, nào gạo, nào đậu, thịt thà … để nấu bánh tét. Dĩ nhiên là không thiếu những tấm vải để may áo mới cho mấy đứa em gái tôi (còn tôi và anh Hai vì đi học trên “thành” nên tự cho mình cái đặc quyền tự chọn bộ đồ nào ngon lành nhất). Tôi về nhà trước Tết cả hai ba tuần để gọi là “phụ giúp” ba má tôi (nhưng trong thực tế giúp thì ít, mà đi chơi thì nhiều)!

Nói cho ngay, tôi cũng có phụ giúp lau chùi nhà cửa và nấu nồi bánh tét sau vườn. Công việc đánh bóng bộ lư đồng này tuy đơn giản nhưng khá tốn công. Dụng cụ và nguyên liệu để đánh bóng chỉ là trấu, tro, và miếng vải mà thôi. Sau này có thêm vài chất hóa học, nhưng hình như loại chất này làm mòn đồng hơn là trấu, và cái bóng của nó cũng không bằng cái bóng của trấu. Phải tốn đến cả nửa ngày mới làm xong bộ lư. Xong cái lư đến việc phụ giúp nấu nồi bánh tét sau vườn, với nhiệm vụ duy nhất là canh chừng nồi bánh. Hễ thấy củi sắp cháy hết thì bỏ củi mới vào. Trong ánh lửa bập bùng và khí trời dịu mát của mùa giáp Tết, tôi ngồi đọc sách và kể chuyện Tam Quốc chí cho lũ nhỏ đang vảnh tai ngồi nghe một cách say mê. Bây giờ nghĩ lại những khoảnh khắc đó, tôi như thấy lại một khung trời đầy kỉ niệm và hạnh phúc.

Ngày 30 Tết là ngày tôi cũng bận rộn chút đỉnh. Công việc của tôi là đem mấy đòn bánh tét đi cho khắp xóm và bà con. Bà con tôi trong làng rất đông, nên tuy cái việc mới nghe qua thì rất đơn giản, nhưng thật ra tốn rất nhiều công sức. Phải bơi xuồng ngang dọc mấy con kinh rạch để ghé từng nhà và cho bánh. Đến nhà nào, tôi chỉ việc nói một câu học thuộc lòng, “Má con gửi chú/bác/thiếm/dượng/dì/cô/cậu vài đòn bánh tét”, nhưng thỉnh thoảng tôi lại “chế” ra vài chữ mà tôi nghĩ là hay ho hơn như “ăn lấy thảo trong 3 ngày xuân”.

Khổ nỗi là mấy lời tôi chế ra có khi làm cho bà con cười nhạo, vì trong quê có ai nói “xuân” đâu; người ta nói “Tết” thôi. Do đó, tôi mang tiếng là “công tử thành”, vì mấy chữ trong sách vở như thế được xem chữ của dân thành thị! Còn nhớ có lần cậu hai Đông ở rạch Lô Bích thấy tôi, ổng hỏi “Dìa hồi nào đó mậy?” Tôi trả lời “Dạ, con mới về hôm kia”, và thế là bị ổng sửa lưng liền: ở đây tụi tao chỉ nói 'dìa' chứ hông phải 'về' nghe mậy! Nói xong, cậu hai tôi cười lớn, làm tôi thấy mình … quê. Đó là những chuyến “công tác”, nói theo cách nói bây giờ, là góp phần nối kết bà con, chòm xóm với nhau trong 3 ngày Tết. Thông lệ cho bánh tét trong dịp Tết phải nói là một truyền thống rất hay, một nét văn hóa đẹp của người miệt vườn.

Ngày mồng Một là ngay chúng tôi qui tụ ở nhà ngoại. Có thể nói thời đó, nhà ngoại tôi luôn luôn là “tổng hành dinh” của ngày Tết. Tất cả con cháu đều tụ tập về nhà ngoại. Đó là ngày hạnh phúc nhất của tôi, vì hôm đó là ngày tôi được gặp lại mấy người dì, dượng, cậu, anh em lưu lạc tứ phương ít khi gặp nhau trong năm qua. Người lớn thì loay hoay chuẩn bị bàn thờ để cúng. Mấy dì cô lúc nào cũng bận bịu dưới bếp lo nấu nướng. Mấy cậu dượng thì có người tán gẩu, có người đánh cờ, nhưng cậu Út Chân của tôi thì lúc nào cũng lo cái bàn thờ rất trang trọng. Còn bọn trẻ chúng tôi chỉ chờ được sai vặt, và được ... lì xì.

Đó là một bức tranh ngày Tết hết sức sinh động còn đọng lại trong tôi. Bọn trẻ cùng tuổi đi học như tôi thì tâm sự nhiều lắm, có khi khoe khoang nữa. Bao nhiêu câu chuyện buồn vui trong thi cử, tình yêu, làm ăn, đều lần lượt được thuật lại và chia sẻ. Năm qua gặp ông thầy hắc ám, năm tới sẽ thoát nạn. Năm rồi có cô H nhờ đưa thư tình cho thầy B. Thích lắm! Những toan tính hoài bão tương lai, xong tú tài sẽ làm gì, vào đại học hay đầu quân, bạn bè ai còn ai mất. Những dịp như thế, lúc nào tôi cũng hỏi nhỏ cô em họ tên Đ (nó rất xinh gái) rằng năm qua có mấy người "ngắm nghía mày, tao biết hết"; cô ta sợ tôi lắm vì sợ bị báo cáo cho cậu mợ là nó "mệt", nhưng nói ngay tôi làm công tác bảo mật rất tốt. Hai anh em tôi rất thân nhau, vì cùng tuổi và quan điểm sống cũng giông giống nhau. Có lúc tôi bắc cái võng giữa hai cây cau, nằm đó vừa kể chuyện vừa nghe chuyện của anh em, thấy vừa hạnh phúc vừa bình an dưới thế gian.

Có một lần dượng Út tôi mua được một cái máy hát dĩa hiệu Philip, và dượng muốn “khoe” của nhân ngày Tết. Bọn trẻ chúng tôi chỉ đứng chung quanh chứ không được đến gần máy mà nghe nói tốn cả chục giạ lúa để mua, và đó là một tài sản tương đối lớn. Tôi còn nhớ đó là loại máy hát giống như cái vali lớn, khi dùng phải mở ra như mở vali. Máy hát này phải lên dây thiều, và chỉ dùng dĩa nhựa hay dĩa than (tôi quên) nhưng toàn màu đen. Dượng trịnh trọng mở máy, đặt cái dĩa Mỹ Châu lên, rồi cẩn thận để kim vào dĩa, và chúng tôi thưởng thức những ca khúc Tết như Xuân này con không về, Câu chuyện đầu xuân, Cánh tiệp đầu xuân, Mùa xuân trên cao, Hạnh phúc đầu xuân, Nhạc khúc mừng xuân, Nếu xuân này vắng anh, v.v. Thích nhất là dĩa nhạc hài của ban AVT và vọng cổ Văn Hường. Đó là những ca khúc sống mãi cùng năm tháng, lúc nào cũng được cất lên khi có ngày Tết, cho dù lời ca hay nhạc điệu có bị dè bỉu là “sến”. Ai nói sến tôi chịu, nhưng đã 40 năm qua, tôi chưa thấy một ca khúc nào viết được những lời ca như thế này:

Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng 
Xuân đến rồi đây nào ai biết không? 
Mang những hoài mong đi vào ngày tháng 
Bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang.

Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này 
Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai 
Khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm 
Trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm.

Không biết ở vùng khác thì sao, nhưng ở quê tôi, có nhiều người ra đồng từ ngày mồng hai. Ra đồng để xem ruộng lúa, nhưng trong thực tế cũng là dịp để ghé qua hàng xóm nhâm nhi, tán gẩu nhân dịp đầu năm. Ở dưới chợ thì có múa lân và đánh bầu cua cá cọp cũng vui. Nhưng tôi thì không bao giờ tham dự vào những trò chơi này, mà chỉ lân la ghé nhà bà con, nhà thầy cô, hay ra Rạch Giá chúc Tết bạn bè.

Ở dưới quê, ngày mồng Ba có lệ coi chân gà. Mà phải là gà trống, vì hình như người ta cho rằng gà trống là biểu tượng của các đức tính cao quí như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Gà được luộc chín, chéo cánh gà, và quan trọng nhất là xem cặp chân gà. Phải là cặp chân màu vàng mới được xem là biểu tượng tốt, có nghĩa là sung mãn, tốt đẹp trong năm. Miệng gà thì để cọng hành lá cho gà ngậm, hình như có nghĩa là “thông”, tức là mong cho công việc làm ăn quanh năm suốt tháng sẽ được thông suốt. Cúng xong, ba tôi treo cặp chân gà trước cửa nhà, nghe nói là để trừ tà ma. Riêng tôi thì hôm đó có một bữa ăn gà. Gà thời đó là gà nuôi trong nhà (hay "gà chạy bộ" theo cách nói ngày nay) nên thịt rất ngon chứ không phải như thịt gà công nghiệp như bây giờ. Nhưng chúng tôi không được ăn chân gà, vì người lớn nói là ăn chân gà thì tay sẽ bị run không cầm viết được!

Chiều nay, mở tờ báo cũ bắt gặp những câu thơ của Đỗ Trung Quân nói lên cái tâm trạng và hoàn cảnh của tôi lúc này:

Ta quê hương lại thiếu một quê nhà 
Chiều cuối năm nhìn những chuyến xe qua 
Mấy mươi năm vẫn một chiều rất cũ 
Vắng tự trong lòng … Vắng thổi ra.

Những câu thơ mang trong nó ý nghĩa một ngậm ngùi cho một thân phận xa quê trong ngày Tết. Nhưng Tết là cái neo, cho nên dù ở đây không có Tết tôi vẫn nghĩ đến Tết, đến ngày xuân, vẫn băn khoăn trước cái hiển nhiên mà vô hình của bước đi của ngày tháng. Trong cái tuần hoàn của thời gian có tôi đang ngồi đây rung cảm trước buổi giao mùa của cái Tết ở bên nhà, và cũng là buổi giao mùa của chính đời tôi: lên một tuổi.

Rồi chút nữa đây, tôi sẽ lắng mình nghe tiếng tích tắc của kim đồng hồ báo hiệu một năm mới, và để sống tiếp với đời bằng một tâm tư Nhật nhật tân, hựu nhật tân (1).

===

(1) Tạm dịch lời chúc Tết đến thanh niên của cụ Phan Bội Châu: Mỗi ngày là một nỗ lực làm mới chính mình.

2 comments:

Tam Nguyen said...

Chúc chú Tuấn và gia đình hưởng một cái Tết thật nhiều niềm vui, hạnh phúc. Hy vọng trong năm 2016 sẽ được "nghe chú giảng nhiều bài hay nữa". Đọc những bài chú viết trên blog mà tưởng như nghe chú nói chuyện gần gũi!

mai nguyen thi tuyet said...

Được biết Thầy rất "mê" thơ của thi sĩ Hoàng Cầm từ lâu. Nhân dịp một mùa xuân mới lại về trên quê hương xin gửi tới Thầy một bài thơ mang đầy vẻ đẹp ngọt ngào nồng say của mùa xuân
trong mắt của những người yêu nhau của Hoàng Cầm thay cho một lời chúc Tết.

Bài thơ "Khi mùa xuân đến"


Khi mùa xuân đến mắt em
Bỗng dưng biển sóng trào lên ngang trời
Dâng theo cả chín trận cười
Đậu chênh vênh bến mi dài rợp xanh
Khi mùa xuân đến mắt anh
Chon von dòng tóc
................em thành sông xa
Bên này sông
............đỏ phù sa
Bên kia sông
.........trắng nhập nhòa khói sương
Em thường khấn nguyện
...................mười phương
Mà quên cánh gió
................dân đường xuân đi
Đến nơi em cát khô lì
Gọi em em mải miết gì không thưa
Đến nơi anh ứa dòng mưa
Gạn trăm bến đục
Xuân chờ trong em.