Saturday, June 10, 2017

Đại học hàng đầu thế giới 2018

Nhóm QS mới công bố danh sách các đại học hàng đầu trên thế giới. Trong danh sách top 10 thì không có gì thay đổi, vì các đại học của "đế quốc" vẫn đứng đầu: MIT, Stanford, Harvard, Caltech, Cambridge, Oxford, UCL, ICL, Chicago, và ETH. Nhưng thay đổi ngoạn mục là các đại học châu Á. Đại học số 1 của châu Á là, ngạc nhiên thay, Nanyang (hạng 11 trên thế giới), trên cả NUS (xuống hạng 15)!



Trong số 50 đại học hàng đầu thế giới, có 13 đại học châu Á. Các đại học này chủ yếu là Tàu (Hong Kong, Thanh Hoa, HKUST, Bắc Kinh, Chinese Univ HK, City Univ HK, Uni Hong Kong, Fudan), phần còn lại là Hàn Quốc (SNU, KAIST), Nhật (Kyoto). Nói chung, các đại học Tàu đang vươn lên rất nhanh, hơn cả Nhật.

Úc có Đại học Quốc gia Úc (ANU) đứng hạng 20, kế đến là Melbourne (hạng 41), UNSW Sydney (hạng 45), trên cả ĐH Queensland (47) và Sydney (50). UNSW Sydney nhảy 4 hạng tính từ 2017, nhưng Sydney tụt 4 hạng. Một thay đổi ngoạn mục.

Vùng Đông Nam Á có một số đại học hàng đầu, nhưng chủ yếu là các nước như Singapore, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân:

11 Nanyang Technological University, Singapore (NTU)
15 National University of Singapore (NUS)
114 University of Malaya 
229 Universiti Putra Malaysia
245 Chulalongkorn 
253 Universiti Teknologi Malaysia 
264 Universiti Sains Malaysia 
277 University of Indonesia
334 Mahidol 
367 University of the Philippines 
401 Universitas Gadjah Mada 
551 Chiang Mai University
801 Khon Kaen University

Việt Nam thì chưa có đại học nào có đẳng cấp này. Nhưng nếu lấy bảng xếp hạng của Á châu thì VNU Hà Nội xếp hạng 139 (với H index chỉ 32), VNU Sài Gòn 147.

Cũng cần nói thêm rằng những bảng xếp hạng đại học như QS cũng chỉ là để tham khảo là chính, chứ chưa hẳn nói lên thực chất của vấn đề. Vấn đề chính là phương pháp xếp hạng còn rất nhiều hạn chế, chứ không hoàn hảo như nhiều người tưởng. Bảng xếp hạng QS dựa vào 6 tiêu chuẩn và trọng số dưới đây:

(a) academic reputation (trọng số 40%): chủ yếu dựa vào survey.
(b) employer reptation (10%): chủ yếu dựa vào survey.
(c) faculty/student ratio (20%)
(d) citation per faculty (20%)
(e) international faculty (5%)
(f) international student (5%)

Tiêu chuẩn lớn nhất và gây ra nhiều nghi ngờ nhất là "academic reputation" (tức là danh tiếng trong học thuật), vì kết quả dựa vào điều tra lấy ý kiến (survey). Mà, survey thì không thể nào đầy đủ và khách quan.

Tuy nhiên, dù dựa vào tiêu chuẩn định lượng hay định tính thì các đại học hàng đầu vẫn là hàng đầu, và các đại học hàng chót vẫn là hàng chót. Chỉ có các đại học trong hai thái cực đó mới có cơ hội cải tiến, và đại học Việt Nam thì chưa ở trong danh sách đó.

===

Danh sách đại học "top 50" của thế giới

https://www.topuniversities.com/university-rankings/world-university-rankings/2018

1 Massachusetts Institute of Technology (MIT)
2 Stanford University
3 Harvard University
4 California Institute of Technology (Caltech)
5 University of Cambridge
6 University of Oxford
7 UCL (University College London)
8 Imperial College London
9 University of Chicago
10 ETH Zurich - Swiss Federal Institute of Technology
11 Nanyang Technological University, Singapore (NTU)
12 Ecole Polytechnique Fédérale de Lausanne (EPFL)
13 Princeton University
14 Cornell University
15 National University of Singapore (NUS)
16 Yale University
17 Johns Hopkins University
18 Columbia University
19 University of Pennsylvania
20 The Australian National University
21 Duke University
21 University of Michigan
23 King's College London
23 The University of Edinburgh
25 Tsinghua University
26 The University of Hong Kong
27 University of California, Berkeley (UCB)
28 Northwestern University
28 The University of Tokyo
30 The Hong Kong University of Science and Technology
31 University of Toronto
32 McGill University
33 University of California, Los Angeles (UCLA)
34 The University of Manchester
35 London School of Economics and Political Science (LSE)
36 Kyoto University
37 Seoul National University
38 Peking University
38 University of California, San Diego (UCSD)
40 Fudan University
41 The University of Melbourne
41 KAIST 
 43 Ecole normale supérieure, Paris
44 University of Bristol
45 The University of New South Wales (UNSW Sydney)
46 The Chinese University of Hong Kong (CUHK)
47 Carnegie Mellon University
47 The University of Queensland
49 City University of Hong Kong
50 The University of Sydney

5 comments:

Anonymous said...

người Nhật đã dần trở nên chậm hơn vì 2 nguyên nhân:
-họ không chú trọng ngoại ngữ tiếng Anh.
-chủ nghĩa dân tộc có lợi và cũng có hại cho sự phát triển

Anonymous said...

Mặc dù ta có thể bàn cãi về các tiêu chuẩn đã được dùng để đánh giá & sắp hạng, quả thật các đại học hàng đầu trong danh sách này, đặc biệt từ #1 đến #6 là nơi tập trung rất nhiều các nhà nghiên cứu hay chuyên môn nổi tiếng hàng đầu trên thế giới (có thể vì trường nổi tiếng nên cũng giàu về tài chánh và thu hút được nhiều nhân tài đến đấy).
Từ #11 trở xuống: mặc dù các trường của Singapore, Bắc Kinh, ĐH Thanh Hoa (Tàu) được sắp hạng khá cao như vậy, nhưng liệu các trường này có đào tạo được nhiều nhân tài hay nhà bác học nổi tiếng trên thế giới bằng các trường bị sắp hạng thấp hơn như: UC Berkeley, UCLA, McGill University, Kyoto University, Ecole normale supérieure hay không?
Có điều gì đó không được ổn lắm trong cái danh sách này, một khi mà UC Berkeley và UCLA bị sắp hạng thua các địa học của Singapore hay của Tàu.

Anonymous said...

Sao QS đã xếp hạng đại học năm 2018 nhỉ ? Xin Anh Tuấn giải thích giùm điểm này

Tuan Nguyen said...

Tôi cũng ngạc nhiên là họ công bố danh sách năm 2018. Thường thì họ đã làm trước vài tháng và chờ đến đầu năm mới công bố, nhưng lần này họ làm khác. Tuy nhiên, bảng xếp hạng Á châu thì vẫn là 2016.

PayliTuzu said...

The blog was absolutely fantastic! Lot of information is helpful in some or the other way. Keep updating the blog, looking forward for more content...Great job, keep it up.
Goldenslot Casino Online
Gclub Casino
Gclub จีคลับ