Friday, February 9, 2018

Bàn về qui trình bổ nhiệm và tiêu chuẩn giáo sư đại học

Xin chia xẻ cùng các bạn một vài ý kiến của tôi về qui trình và tiêu chuẩn 'công nhận' chức danh giáo sư. Bài phỏng vấn này thật ra là thực hiện năm ngoái (và bẵng đi một thời gian tôi quên), nhưng mãi đến năm nay nhà báo mới đăng, chắc là để có tính thời sự.





Hơn 1200 giáo sư, phó giáo sư mới: Vét "chuyển tàu" chót mang số hiệu 174

Có nhiều ý kiến cho rằng năm 2017 "bão" chức danh Giáo sư và Phó giáo sư, con số thật đáng bất ngờ với hàng nghìn ứng viên được phong hàm. Báo điện tử Infonet đã có cuộc trò chuyện với Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn - Viện Garvan, Úc về con số hơn 1200 giáo sư và phó giáo sư mới được công nhận.

Phóng viên: Thưa GS Nguyễn Văn Tuấn, theo công bố mới nhất của Hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước năm 2017 có thêm hơn 1200 chức danh giáo sư và phó giáo sư mới. Quan điểm của ông như thế nào?

NVT: Tôi thấy báo chí cũng đã nhận xét về con số GS/PGS được 'công nhận' năm nay là "đột biến". Quả thật như vậy, số GS/PGS năm nay tăng 75% so với năm 2016 và hơn 2 lần so với năm 2015. Tôi nghĩ số lượng GS/PGS tăng hàng năm thì có thể hiểu được, nhưng tăng ở mức độ trên thì quả là bất thường. Lí do như ông Tổng Thư ký Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước đã nói là "vét chuyến tàu chót mang số hiệu 174." Lí do đó tự nó cũng là một bất bình thường.

Phóng viên: Từ năm 2019 trở đi, theo dự thảo mới thì để được công nhận chức danh giáo sư thì ứng viên ít nhất 2 bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus … Với quy định này theo ông có làm khó các ứng viên không?

NVT: Tôi nghĩ những qui định về số bài báo khoa học là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu chỉ có 2 bài báo khoa học thì tôi e rằng quá thấp và quá đơn giản. Xin nói thêm rằng một nghiên cứu sinh ở Úc cũng đã có ít nhất 2 bài báo khoa học trước khi bảo vệ luận án tiến sĩ. Trong lần xét giải thưởng Tôn Đức Thắng vừa qua, chúng tôi nhận những hồ sơ của các "Assistant Professor" (tức thấp hơn Phó giáo sư một bậc) mà người nào cũng có hơn 20 công trình nghiên cứu khoa học.

Qui định 2 bài báo vẫn chưa đủ, bởi vì đó chỉ là lượng; cần phải xem xét đến chất nữa. Vấn đề không phải là bao nhiêu bài báo khoa học, mà là những bài đó được công bố ở đâu, ứng viên đóng vai trò gì trong bài báo, và bài báo có tác động như thế nào đến chuyên ngành. Tất cả những khía cạnh vừa kể không có trong qui định. Do đó, tôi nghĩ qui định mới chẳng làm khó ai cả; trong thực tế qui định đó rất dễ cho nhiều ứng viên.

Phóng viên: Trong số danh sách các ứng viên được phong hàm đợt này có danh sách ngành y khá dày trong số 85 GS thì có gần 20 người, 1141 PGS thì có 172 người thuộc ngành y. Theo GS Tuấn hiện nay tiêu chuẩn tác giả trong các bài nghiên cứu của ngành y như thế nào, làm sao để tránh bị lạm dụng các tiêu chí?

NVT: Tôi thấy năm nào con số GS/PGS ngành y đều cao hơn nhiều so với các chuyên ngành khác. Điều này quả thật là đáng ngạc nhiên, bởi vì ở nước ngoài, các ngành kĩ thuật và công nghệ thường có số giáo sư đông hơn ngành y.

Tôi nghĩ hiện trạng này có thể xuất phát từ qui định. Với những qui định như số bài báo khoa học mà không kèm theo những tiêu chuẩn về phẩm chất và vị trí tác giả, thì ngành y có nhiều công bố hơn các ngành khác. (Cần nói thêm rằng khoảng 90% các công bố quốc tế trong ngành y không phải tác giả trong nước chủ trì hay đứng tên tác giả chính). Do đó, nếu qui định có kèm theo những tiêu chuẩn như phải là tác giả đầu hay tác giả chính và phải chứng minh là chủ trì công trình nghiên cứu thì chắc ngành y sẽ có rất ít ứng viên đạt tiêu chuẩn.

Phóng viên: Những bất cập trong việc xét duyệt GS, PGS ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học nước nhà như thế nào?

NVT:  Những bất cập về qui trình và tiêu chuẩn làm cho uy tín khoa học của Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực. Thử tưởng tượng, nếu đối tác nước ngoài đọc lí lịch khoa học của một giáo sư Việt Nam mà chỉ có 2 bài báo khoa học thì họ sẽ rất ngạc nhiên. Nếu con số là 20 hay 30 thì họ có thể thông cảm, vì nước nghèo và khoa học kém phát triển nên tiêu chuẩn như vậy là tạm được. Nhưng dù là nước nghèo, mà một giáo sư chỉ có vài bài báo khoa học thì đó là một điều bất thường. Từ đó, người ta có cái nhìn tiêu cực về khoa học Việt Nam, và cái nhìn này gây ảnh hưởng xấu đến những giáo sư Việt Nam có thực tài và có thành tích công bố quốc tế tốt.

"Bùng nổ" giáo sư, phó giáo sư vì sao?

Phóng viên: Hiện nay tại Việt Nam có hai luồng ý kiến nên để hai mô hình đó là do quốc gia phong hàm và phân cho trường. Theo ông, Việt Nam nên chọn mô hình nào?

NVT:  Tôi thì nghiêng về xu hướng để cho trường đại học phụ trách việc đề bạt và bổ nhiệm chức vụ giáo sư. Vấn đề là quản lí qui trình bổ nhiệm, tiêu chuẩn học thuật, và nhất là thành phần của hội đồng bổ nhiệm. Chúng ta có thể tham khảo cách làm ở nước ngoài. Một đại học có một "hội đồng khoa bảng", hội đồng này bao gồm các thành viên cấp giáo sư trong và ngoài trường, trong nước và quốc tế. Nếu trường không đủ thành viên có tư cách khoa học, thì có thể mời thành viên từ ngoài, và điều này rất bình thường. Hồ sơ của ứng viên được gửi ra ngoài để bình duyệt, và sau khi có bình duyệt, hội đồng chỉ phỏng vấn ứng viên và ra quyết định.

Nhưng tôi cũng hiểu tại sao vẫn còn tồn tại cách làm "trung ương hóa" như hiện nay. Ở Việt Nam, nhiều khi "nói vậy mà không phải vậy", hay có nhiều tiêu chuẩn và qui trình được đặt ra rất hợp lí, nhưng khi trao về cho trường và địa phương thì xảy ra nhiều vấn đề. Mỗi trường có một lịch sử phát triển và nhu cầu riêng, cho nên tiêu chuẩn cũng khác nhau. Do đó, tôi nghĩ cần phải có quản lí qui trình, nhưng không can thiệp vào nội bộ của trường.

Phóng viên: Như GS Tuấn có nói đã đến lúc chúng ta giải tán hội đồng chức danh giáo sư nhà nước, và giao việc bổ nhiệm giáo sư về cho trường đại học. Nhưng với một môi trường vốn “sính danh” như ở Việt Nam thì việc giao cho trường có đạt được những GS thật đúng như mình mong muốn không, kinh nghiệm học hỏi cho Việt Nam là gì?

NVT: Ở các nước như Mĩ và Úc, chức danh giáo sư thường gắn liền với một trường đại học hay một viện nghiên cứu. Do đó, khi nói "giáo sư" người ta phải kèm theo tên trường. Ngay cả ở Úc và Mĩ, giáo sư cũng có nhiều đẳng cấp. Trường danh tiếng có tiêu chuẩn đề bạt và bổ nhiệm cao hơn trường kém danh tiếng hay trường địa phương. Nhưng tôi nghĩ dù là trường nào thì cũng phải làm theo một qui trình chuẩn, và một số tiêu chuẩn tối thiểu để tham khảo.

Phóng viên: Theo Giáo sư, ông có nhiều năm nghiên cứu ở Úc cũng như tham dự nhiều hội thảo khoa học trên thế giới. Có nơi nào có chức danh PGS không? Theo ông, Việt Nam có nên bỏ chức danh PGS đi không?

NVT: Tùy theo cách chúng ta dịch thôi. Ở Mĩ có ba bậc giáo sư: Assistant Professor, Associate Professor, và Professor. Tuy danh xưng là "Assistant" nhưng họ chẳng phụ tá cho ai cả, mà là một nhà khoa học độc lập. Nếu chức danh "Assistant Secretary" có thể hiểu là "Thứ Trưởng", thì chức danh "Assistant Professor" của Mĩ có thể dịch là "Phó giáo sư". Nhưng vấn đề ở đây là Việt Nam xem chức danh "Phó giáo sư" tương đương với chức danh "Associate Professor" của Mĩ. Theo tôi thì nếu cải cách triệt để, Việt Nam nên có ba bậc giáo sư như Mĩ, vì đó là xu hướng chung trên thế giới.

Phóng viên: Trong lĩnh vực y khoa, ông có đánh giá như thế nào về các công trình nghiên cứu khoa học và việc ngày càng có nhiều bác sĩ cố phấn đấu lên PGS, GS?

NVT: Hiện nay, trong số các giáo sư được công nhận thì số giáo sư y khoa chiếm nhiều nhất. Chẳng hạn như trong năm nay, số người được công nhận giáo sư thuộc ngành y chiếm lệ này cao nhất so với các chuyên ngành khác. Điều này có thể giải thích được, vì công bố quốc tế ngành y sinh học chiếm gần 1/4 tổng số công bố quốc tế từ nghiên cứu khoa học Việt Nam.

Tuy nhiên, có một sự thật khác là đa số những bài báo ngành y từ Việt Nam là do người nước ngoài đứng tên tác giả chính (có lẽ vì họ chủ trì đề tài nghiên cứu) và người Việt chỉ đứng tên tác giả phụ. Theo tôi biết thì hội đồng chưa xem xét đến vị trí và vai trò của tác giả trong các công bố quốc tế. Sự thiếu sót này có thể giúp cho những người chẳng nghiên cứu gì, nhưng do có vai trò quản lí, nên họ có tên trong rất nhiều bài báo khoa học, và do đó họ rất dễ dàng đáp ứng tiêu chuẩn về công bố quốc tế.

Phóng viên: Tôi lấy ví dụ chỉ riêng trong lĩnh vực y khoa ở Việt Nam, nếu người bệnh có bệnh tới bệnh viện hay các phòng khám khám bệnh họ sẽ phải trả số tiền khám gấp đôi thậm chí gấp 3 cho một lần vào để được bác sĩ chỉ định nếu bác sĩ đó là PGS hoặc GS. Theo ông là tâm lý “sính giáo sư” của người dân có là nguyên nhân nhiều người cố gắng để được phong hàm PGS, GS?

NVT: Về nguyên lí, đề bạt chức lên chức vụ giáo sư là một hình thước tưởng thưởng và ghi nhận những đóng góp của ứng viên cho khoa học và cho trường đại học. Khi đóng góp của ứng viên đạt được tiêu chuẩn sàn thì họ có quyền yêu cầu được đề bạt. Ở nước ngoài, giáo sư hưởng lương cao hơn giảng viên đại học, nhưng mức độ khác biệt không quá đáng kể. Do đó, lương bổng không phải là một động cơ để người ta phấn đấu trở thành giáo sư.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, tôi nghĩ động cơ để xin công nhận chức danh giáo sư có khi xuất phát từ nhu cầu thực tế của cơ sở. Theo tôi biết thì có qui định trường đại học phải có giáo sư hay phó giáo sư và số tiến sĩ mới có thể mở ngành đào tạo. Ở các bệnh viện thì giáo sư được trả tiền khám cao hơn bác sĩ không có danh xưng giáo sư. Tất cả những yếu tố đó có thể giải thích tại sao ngành y có nhiều người xin chức danh giáo sư so với các ngành khác.

Nhưng từ đó vấn đề đặt ra là chức danh giáo sư để làm gì. Ở nước ngoài, người ta phân biệt hai nhóm giáo sư, một nhóm tạm gọi là "giáo sư chính thống" và một nhóm gọi là kiêm nhiệm. Giáo sư chính thống có nghĩa là những người được trường đại học bổ nhiệm và trả lương. Giáo sư kiêm nhiệm là những người làm trong kĩ nghệ hay bệnh viện, nhưng có đóng góp trong đào tạo cho trường, nên được bổ nhiệm chức vụ giáo sư, tiêu chuẩn ít khắt khe, nhưng trường không trả lương. Giáo sư kiêm nhiệm phải ghi rõ là "Adjunct Professor" chứ không được ghi "Professor" trước tên mình. Nhìn theo cách đó thì đa số những giáo sư y khoa ở Việt Nam là thuộc hình thức giáo sư kiêm nhiệm.




No comments: