Wednesday, February 3, 2010

Lời tự thuật của tác giả bài thơ "Màu Tím Hoa Sim"

Có lẽ những người yêu thơ và nhạc không ai không biết đến bài Màu tím hoa sim, mà Phạm Duy phổ thành nhạc trong ca khúc Áo anh sứt chỉ đường tà. Ngoài ra, Dũng Chinh cũng phổ nhạc bài thơ này, nhưng tôi không thích bằng bài của Phạm Duy. Trong bài sau đây, Hữu Loan kể lại bối cảnh ra đời của bài thơ. Dù đã nghe qua những khó khăn lớn của ông, nhưng tôi không ngờ ông lại khổ cực như mô tả trong bài tự thuật này. Đọc để cảm phục cái tính can trường và bất khuất của tác giả.

Bài viết còn nhắc đến vụ CCRĐ với một cảnh man rợ như mô tả trong đoạn này: "
Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết."

NVT



===

Lời tự thuật của tác giả bài thơ "Màu Tím Hoa Sim"

Hữu Loan: Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi - Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi - Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt .....

Có lần tôi kể chuyện " bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: "Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu" Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi .....

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ....Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì....tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên đó ... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa...

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ...

Chín năm sau, tôi trở lại nhà...Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp....

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm " soạn kịch bản".
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: " yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn....Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói "Khi tóc nàng đang xanh ..." ...Tôi về không gặp nàng...

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa... Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang "ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chổ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
 / Những đồi sim, những đồi hoa sim / 
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
 / Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt / 
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết / 
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi" hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi". Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng....Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi...

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.



Hữu Loan và bà Phạm Thị Nhu


Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
 
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no....Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai , 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi " tái xuất giang hồ" sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.
 
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia "lộc" cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

Nguồn: www.danchimviet.com/articles/2004/1/Li-t-thut-ca-tac-gi-1-bai-th-ni-ting-Mau-Tim-Hoa-Sim/Page1.html


Màu Tím Hoa Sim


Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như yêu người người em gái.
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê..
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về không gặp nàng
Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được nhìn nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu vàng cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...)


12 comments:

thong said...

Thương quá là thương nhà thơ Hữu Loan, thương quá những đồng bào tôi bị tàn hại bởi họa CS. Thế mà vì thiếu hiểu biết, tôi chẳng quan tâm đến thông tin bài thơ được đề nghị mua với giá 100 tr. Cũng thầm cám ơn nghĩa cử của người mua, đã thay cho nhiều thế hệ người Việt có chút chia sẻ với 1 nhà thơ chịu số phận nghiệt ngã.

Hồng Diễm said...

Cảm phục trước Tài năng và tâm Đức của nhà thơ quá!
Thương cho số phận lênh đênh của nhà thơ! Xin nghieng mình trước nghĩa cử giản đơn đi tìm và đưa cô gái nhà chủ về! Cưu mang nàng và cưới nàng làm vợ!
Cảm động quá đi mất!!!

Phạm Văn Thông said...

Đọc nhiều lần về nhà thơ Hữu Loan, nhưng vẫn xúc động..

Thanh Tùng said...

Gái mà những người dân Việt Nam đều có thể đọc bài viết này, để biết về một góc nhỏ sự thật dù xảy ra đã lâu nhưng vẫn luôn bị che dấu, và hãy ngẫm nghĩ "tại sao"...

Anonymous said...

Gia đình cô Ninh có gene bệnh tâm thần từ đời ông Nội đến bố cô Ninh, tự tử mà chết. Ngay cô Ninh cũng có gene bệnh tâm thần (tôi có người nhà biết rất rõ nhà cô). Bố (hay ông Nội) cô tự động đạp xe đạp xuống sông mà chết.
Anh cô Ninh là Tr. Tướng Phạm Hồng Cư (nguyên nhóm theo tên Phạm Hồng Thái), anh em cột chèo với tướng Giáp, con rể nhà lý luận cộng sản Đặng Thai Mai.

Tại sao lại bệnh tâm thần. Xin thưa vì lời truyền giáng vào họ "Lê Đỗ" là hậu duệ của Đỗ Bí, được ban quốc tính nên còn gọi là Lê Bí, hay Lê Đỗ Bí, quê Nông Cống, Thanh Hóa. Họa cả nhà vì tham gia vào vụ Lê Chi Viên khiến Nguyễn Trãi tru di 3 tộc.

Kenny Huynh said...

Thich ong Huu Loan qua tinh chat minh giong ong ay biet ong lau roi voi nhung bai tho noi tieng da truyen cam hung cho nhieu NS pho nhac nhung bay gio moi doc ky giai thoai nay cang kinh phuc ong hon .

Unknown said...

Trong tôi, Hữu Loan không chỉ là một nhà thơ nỗi tiếng, mà còn là một vĩ nhân. Love.

Loc Bao said...

CHUYỆN NHÂN VĂN – GIAI PHẨM

Oan tình có chuyện Hữu Loan
Nhà thơ chiến sỹ sống hoan núi rừng
Ngày ngày thồ đá dửng dưng
Tiên phong đạo cốt sáng bừng nhân cách
Gian nan mới tỏ phí phách
Giã từ Cộng Sản thoát ách mơ hồ
Hàm oan từ dạo làm thơ
Yêu màu sim tím vướng tơ tình nhà
Nỗi lòng nhớ vợ quê xa
Người em Ninh Thị hôm qua chết chìm (Lê Đỗ Thị Ninh)
Oan tình “Màu Tím Hoa Sim”
Ghép cho trọng tội hãm kìm chiến chinh
Thơ về đau khổ cuộc tình:
(Viết theo bài thơ Màu Tím Hoa Sim của cố thi sỹ Hữu Loan)
'Chuyện anh cán bộ Việt Minh thương thầm
Người em gái nhỏ trầm ngâm
Tuổi vừa đôi tám không trâm búi đầu
Quen nhau thắm thiết từ lâu
Rồi ngày binh lửa tuyến đầu anh đi
Duyên phần lắm lúc có khi
Hợp tan vụt đến gây chi não lòng
Được tinh bố mẹ ngỏ hôn
Vội về áo lính bên sông cưới nàng
Cười xinh đắm đuối cùng chàng
Hoan ca chưa trọn vội vàng xuất chinh
Cuộc tình chưa kịp hồi sinh
Một chiều sông tím nhấn chìm còn đâu
Tóc nàng xanh mãi sông sâu
Lẽ hơn ba tháng cô dâu không còn
Cạnh sông nắm mộ cỏn con
Má ngồi nhổ cỏ xót con không đành
Chiếc bình hoa cưới xuân xanh
Nay thành bình lạnh vây quanh hương tàn
Sự đời nghịch cảnh trái ngang
Chiến khu ái ngại dặm ngàn sơn khê
Nhỡ khi mình có không về
Thì thương người vợ nhỏ bé chiều quê
Nhưng không chết tráng sỹ hề
Mà người em nhỏ hiền thê chết chìm
Chiều hành quân qua đồi sim
Màu biêng biếc biền biệt tím không hết
Chiều hoang tím chiều hoang biết
Tím thêm màu nhớ da diết khôn nguôi
Tím tình lệ ứa miền xuôi
Tím tình trang lệ rớm bồi đồi sim
Ráng vàng ma loạn nhịp tim
Khúc hành sừng rúc tôi tìm về đâu
Ví đâu với vọng về đâu
Hành binh biền biệt chìm sâu tím nhoà'
Họa thơ Sim tím gần xa
Mượn đôi câu chữ lệ sa giải bày
Oan tình buộc chặt từ đây
Khóc vợ man tội Đảng đày biệt giam
Liệt vào phản loạn gian tham
Nhân văn Giai phẩm lỏng giam quê nhà
Giận thay cái bọn gian tà
Kế sách tiêu diệt gọi là ngu dân
Dễ cai trị dễ mị dân
Không theo chúng giết chúng dằng gảy xương
Học theo sách lược Tần vương
Đốt sách, nhân sỹ đầy đường phơi thây
Trường Chinh học lối quan thầy
“Cách mạng Văn hóa” Mao bày giữ thân
Là công cụ vừa nạn nhân
Đoàn quân “Hồng Vệ” bất nhân để đời
Trải qua hơn chục năm trời
Khoảng hơn chín triệu ngậm cười suối Âm
Nước ta nhân sỹ tầm tầm
Xu theo để sống ngậm tăm giữ mình
Những người khí phách anh minh
Vào tù ra khám tội tình ép oan
Những ai ưu tú khôn ngoan
Nếu không giết được tạo khoanh vây tròn
Làm cho họ chết nỗi lòng
Không nơi truyền đạt khát mòn tự do
Học sinh dạy lối vô lo
Mọi điều có Đảng nghĩ cho mọi bề
Nền tảng nhân bản nặng nề
Từ nay kiếp nạng vạn bề khởi sinh
Xưa nay hệ lụy trung trinh
Vợ đầu oan nợ chồng mình gây nên
Ngờ đâu Nhu Phạm lênh đênh
(Phạm Thị Nhu vợ sau của Hữu Loan)
Vì thơ “khóc vợ” họa lên non ngàn
Oan cay cha mẹ của nàng
Chúng đem đấu tố xếp hàng ác ôn
Mang đi chôn sống vợ chồng
Cho trâu dẫm đạp chạy vòng dọc ngang
Kéo bừa đầu đứt mới ngừng
Nga Sơn Thanh Hóa chuyện từng xãy ra
Năm trăm mẫu đất của nhà
Người rất yêu nước cũng là thương dân
Đã từng gánh gạo nuôi quân
Trưởng phòng tuyên huấn ưu dành yếu nhân (Là Hữu Loan)
Đề xuất lên tận sư đoàn
Bằng khen trao tặng tưởng rằng yên thân
Đến khi có được chính quyền
Nghe phường xúi bẩy giết liền người ngay
Toàn gia xử tử gớm thay
Chỉ cô con gái đuổi ngay khỏi nhà
Mười bảy tuổi quen lụa là
Từ nay rách rưới không nhà nương thân
Tàn nhẫn hơn nữa chúng ngăn
Cấm ai liên hệ thuê nàng làm công
Cấm không được lấy cả chồng
Mót khoai ăn sống miếu hoang ngủ nhờ
Đêm về đầy nỗi sợ lo
Sợ kẽ làm bậy lỡ đò sang ngang
Hữu Loan duyên nợ rõ ràng
Ân tình sâu nặng cùng nàng kết duyên
Bảo rằng gặp gái thuyền quyên
Bữa no bữa đói cũng quen phận này
Hạnh phúc hoa nở như ai
Sáu trai bốn gái ngát đầy hương hoa
Nội ngoại ba chục vui nhà
Một đời dung dị chán đua tranh giành
“Hoa trôi bèo dạt đã đành
Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi!” (trích từ Truyện Kiều)

Dung Le said...

Lần đầu tiên năm 1960 khi đang học lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) chúng tôi được thầy giáo dạy âm nhạc (GS Vĩnh Lợi) ngâm bài thơ nầy. Giọng Huế của Thầy trong âm hưởng bài thơ khiến chúng tôi lúc đó tuy còn nhỏ nhưng đã có những cảm xúc dâng trào. Đi dạy Thầy sử dụng chiếc Lambretta. Sau Thầy bị chính phủ Đệ I CH bắt vì liên hệ đến cuộc đảo chánh hụt của Đ/Tá Nguyễn Chánh Thi. Có lẽ sau năm 1963 Thầy đã được tự do nhưng tôi không có dịp gặp lại Thầy. Sau nầy có lúc tôi tự hỏi có thể Thầy đã vào bưng theo MTGPMN? Nếu quả vậy thì thật là đáng tiếc vì Thầy Trò đã ở hai chiến tuyến sống còn.

Unknown said...

Một con người một nhân cách lớn,lớn lên với những lần gặp cụ bên mái nhà tranh cụ vẫn khảng khái,dung dị vậy với tâm hồn người nghệ sỹ tài hao.rùi một ngày phải tiễn cụ về cõi niết bàn.

Anonymous said...

@ Lộc Bảo:
Chẳng phải là " Hạnh phúc hoa nở như ai. Sáu trai bốn gái ngát đầy hương hoa" đâu. Cọng Sản mà! Con cái ông học giỏi nhưng không cho học lên, chỉ xong lớp mười, phải lao động chân tay. Tôi nghe nói chỉ có người con út được vào đại học ( sau đổi mới ), dường như Hữu Loan cũng suy nghĩ rất nhiều về việc này, ông phải tự hỏi rằng nếu cha muốn giữ tiết tháo mà ảnh hưởng đến con như vậy thì sao!!!
Sống với CS mà muốn giữ được nhân cách, danh dự khó lắm.

Unknown said...

Cảm thấy thương cho số phận của một nhà thơ tài ba lỗi lạc với một bản chất trung trực,chí khí manh mẻ, nhân cách liêm sỉ không khuất phục bất cứ một ai. Phải chi ông được sống dưới chế độ tự do của VN Cọng Hoà thì chắc giờ nầy Làng Thơ Văn Việt Nam giàu có hơn. Xin tạ ơn ông đã để lại những bài thơ thật trữ tình thơ của thi sĩ Hữu Loan sẽ tồn tại mãi mãi trong lòng của những ai yêu thơ. Vĩnh biệt ông người con gái xứ Quảng - Đà Nẵng